nam

, ao len doi, phim tet moi nhat, rem, bot yen mach nguyen chat, du hoc malaysia, dang ky ma vach, son ohui, ao doi mua dong

Thư viện - Thiết bị

Lê Huỳnh Thị Ngọc Điệp, Nguyễn Thị Diệu Chi, Nguyễn Ngọc Huyền, Nguyễn Tấn Đạt, Trần Thị Thoại TrâmThư viện Trường THCS Thốt Nốt nằm nối tiếp dãy phòng học bên trái trong khuôn viên nhà trường, dưới tán cây xanh mát quanh năm (tất nhiên là trừ mùa lá rụng!). Được cải tạo lại từ phòng thực hành...

UBND Thành phố Cần Thơ
Sở GD & ĐT Cần Thơ
Bộ GD-ĐT
Go Online
Violympic
Báo cần Thơ

Hướng dẫn viết thư Quốc tế UPU

Thứ năm - 27/02/2014 08:48
Hướng dẫn viết thư Quốc tế UPU

Hướng dẫn viết thư Quốc tế UPU

Các em học sinh xem hướng dẫn bên dưới để tham gia viết thư Quốc tế UPU.
TÀI LIỆU
Gợi ý một số nội dung cho các em học sinh tham gia cuộc thi viết thư quốc tế
 UPU lần thứ 43 năm 2014, được phát động tại Việt Nam với chủ đề
“Hãy viết một bức thư diễn tả âm nhạc có thể lay động đời sống như thế nào?”
 (Write a letter about how music can touch lives).
 
  1. Nguồn gốc âm nhạc:
    1. Nguồn gốc âm nhạc thế giới:
1. Các giả thuyết về nguồn gốc âm nhạc:
- Căn cứ vào những di tích khảo cổ (từ những bức tranh trên đá hay những chữ viết trên tấm bia) và những lập luận tương đối hợp lý, người ta suy đoán về nguồn gốc của âm nhạc. Từ những bức họa cổ, người ta biết được hình dáng nhạc cụ và phỏng đoán khả năng diễn tấu của nó. Từ những tài liệu văn thơ xưa, người ta biết được lời ca của bài hát cùng những bài dân ca lưu truyền đến ngày nay…. Cũng là cơ sở quan trọng để tìm hiểu về nguồn gốc âm nhạc
- Cách ký âm âm nhạc Châu âu chỉ mới xuất hiện cách đây khoảng gần 1.000 năm và phải qua quá trình cải tiến lâu dài mới cho biết được độ cao và độ ngân dài của âm thanh tương đối chính xác.
- Có nhiều giả thuyết suy đoán về nguồn gốc âm nhạc, nhưng lý thuyết của Karl Bucher là tương đối hợp lý nhất. Ông cho rằng âm nhạc được sáng tạo ra từ lao động của con người. Âm nhạc thời kỳ nguyên thủy thường không phải là bộ môn nghệ thuật riêng biệt, mà nằm trong tổng thể sinh hoạt văn hóa như: ca hát, sử dụng nhạc cụ, nhảy múa, thờ cúng…Âm nhạc thế giới trải qua các giai đoạn như sau:
2. Các thời kỳ phát triển của âm nhạc thế giới:
2.1. Âm nhạc Hy lạp cổ đại:
Bắt đầu từ Thế kỷ thứ 10 trước công nguyên, đã góp phần quan trọng trong việc đặt nền móng cho âm nhạc thế giới ngày nay; âm nhạc đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Hy Lạp cổ đại. Trong những trung tâm thành phố lớn, âm nhạc là môn học bắt buộc vì nó mang tính giáo dục về tinh thần thượng võ rất cao. Trung tâm Alexandri là trung tâm giáo dục lớn nhất đã cho ra đời nhiều công trình nghiên cứu khoa học âm nhạc xuất sắc
2.2. Âm nhạc Thời Trung cổ:
Từ thế kỷ thứ I đền cuối thế kỷ XIII, đây là giai đoạn hưng thịnh nhất của chế độ phong kiến, nhà thờ mất dần vị trí quan trọng trong xã hội, Trung tâm văn hóa là các đô thị lớn, âm nhạc thế giới phát triển mạnh. Có 3 dòng âm nhạc tiêu biểu: Âm nhạc Nhà thờ, Âm nhạc dân gian và âm nhạc hiệp sĩ.
2.3. Âm nhạc thời phục hưng:
Kéo dài từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 17. âm nhạc thời phục hưng đã có công trong việc phục hồi nội dung, nguyên lý thẩm mỹ của âm nhạc Hy Lạp cổ đại, tiếp thu phong cách lãng mạn của các ngành nghệ thuật khác. Âm nhạc đề cao tư tưởng nhân đạo, chịu ảnh hưởng của hiện thực cuộc sống xã hội, ca tụng con người, yêu cuộc sống, tin vào lý trí và sức mạnh của mình.
Thời kỳ này, âm nhạc thế tục phát triển bên cạnh âm nhạc Nhà thờ. Các nhạc sĩ sử dụng những hình thức qui mô lớn để thực hiện những tư tưởng lớn. Ban đầu, âm nhạc có lời bằng tiếng địa phương, dần dần thay thế bằng lời La tinh. 03 nước Châu Âu có nền âm nhạc phát triển nhất của thời kỳ âm nhạc phục hưng là: Ý, Pháp, Đức.
2.4. Âm nhạc thời tiền Cổ điển:
Giai đoạn từ nửa sau thế kỷ 17 đến đầu thế kỷ 18. Đây là thời kỳ đệm giữa thời kỳ Âm nhạc phục hưng và thời kỳ âm nhạc Cổ điển Vienne, có 02 phong cách âm nhạc chính:
+ Phong cách âm nhạc Paroc: xuất phát từ nghệ thuật kiến trúc, phong cách này nghiêng về qui mô đồ sộ, mang tính ngợi ca, hướng lên cao nền tảng vững chắc của cuộc sống. Các nhạc sĩ đại diện cho phong cách này: Monterverdi, Frescobaldi, Lully, Bach, Haendel.
+ Phong cách âm nhạc Rococo: xuất hiện sau phong cách Paroc, khoảng cuối thế kỷ 17. Đây là phong cách âm nhạc mền mại, mang tính thêu thùa, hoa mỹ, hào nhoáng và phát triển theo chiều ngang. Các nhạc sĩ đại diện cho phong cách này: Couperin, Ramean, Searlatti.
2.5. Trường phái âm nhạc Cổ điển Viên:
Kéo dài từ nữa sau thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ thứ 19.
Lúc bấy giờ, cuộc cách mạng Tư sản Pháp năm 1789 và các phong trào đấu tranh ở Châu âu, đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nội dung tác phẩm âm nhạc của trường phái Cổ điển Viên. Đa phần, các tác phẩm đều đề cao tư tưởng nhân đạo, tinh thần lạc quan và tin vào chân lý. Nghệ thuật âm nhạc được tổng kết từ những tinh hoa của âm nhạc các thời kỳ trước, đưa ra các khuôn mẫu công thức cho âm nhạc Cổ điển Viên.
Các nhạc sĩ tiêu biểu  của thời kỳ này: Gluck, Haydn, Moza, Beethoven
2.6. Trường phái âm nhạc lãng mạn:
Kéo dài suốt thế kỷ thứ 19. Thời kỳ này, ở Châu Âu Napoleon lên ngôi Hoàng đế, phản bội lại các tôn chỉ của Cách mạng tư sản, chính thể quân chủ phản động được tái lập; do đó, giới trí thức, giới nghệ thuật hoang mang thất vọng, xa rời hiện thực đi vào những ảo tưởng, Chủ nghĩa xã hội không tưởng được truyền bá rộng rãi. Cho nên, nội dung tác phẩm âm nhạc của thời kỳ này thể hiện về sự chán nản hoài nghi, nhưng vẫn còn những ước mơ và khát vọng cao đẹp. Đa phần, các tác phẩm âm nhạc tập trung sáng tác về chủ đề: tình yêu lãng mạn, nổi cô đơn và những suy nghĩ về cuộc sống. Các tác phẩm âm nhạc đi sâu vào tâm lý cá nhân phức tạp (hiền thục, bác ái, giận dữ v.v…), đề cao tình cảm hơn lý trí. Ngoài ra, còn có những tác phẩm mang chủ đề như: kể chuyện thần thoại, ca ngợi anh hùng….
Các nhạc sĩ tiêu biểu  của thời kỳ này: Schubert, Mendelssohn, Berlioz v.v..
 
  1. Nguồn gốc âm nhạc Việt Nam:
Âm nhạc Việt Nam là sản phẩm của nền văn hoá vật chất và tâm linh của các cư dân trên đất nước ta . Âm nhạc Việt Nam  được hình thành, duy trì và phát triển trên nền tảng của âm nhạc dân gian phong phú, đa dạng từ các dân tộc người trên đất nước ta và cũng là nền tảng của âm nhạc bác học; ngoài ra, âm nhạc Việt Nam còn chịu ảnh hưởng của âm nhạc các nước Đông Nam Á.
Từ bao đời nay, nước ta đã gặp nhiều khó khăn trong việc tìm nguồn gốc âm nhạc, vì âm nhạc dân gian mang tính phi văn bản, nên rất khó xác định về mặt lịch đại, chỉ có thể đưa ra những tiên đoán mang tính tương đối về tính cổ hơn hoặc mới hơn mà thôi.
Âm nhạc Việt Nam phát triển qua mấy thời kỳ sau:
1. Âm nhạc thời đại Hùng Vương:
Thời đại Hùng Vương được truyền 18 đời trong quá trình dựng nước, nền văn hóa điển hình thời kỳ này là trống đồng Đông Sơn, những chiếc thạp đồng và những hoa văn tinh xảo nổi tiếng. Văn hóa Nghệ thuật của người Văn Lang, được hình thành vững chắc và sớm biểu lộ những sắc thái riêng.
Sinh hoạt âm nhạc trong thời kỳ này gắn với sinh hoạt đời thường và gắn với cuộc sống lao động của người dân với các thể loại: hát ru, hát giao duyên, kể chuyện; các lễ hội: Cầu mưa, Phồn thực, hội làng (múa hát, hóa trang…). Nhạc cụ chủ yếu là trống, cồng, chiêng, chuông xênh, khèn, tù và, đàn đá, đàn tre, đàn nứa…
Âm nhạc thời kỳ này, chính là cơ sở và là nền tảng trong sự phát triển của âm nhạc Việt nam trong những giai đoạn kế tiếp. Nó thể hiện sức bền vững trước mọi thăng trầm của lịch sữ dân tộc, để ngày càng được bổ sung phát triển, duy trì cho tới ngày nay
2. Âm nhạc thời Lý, Trần:
Do đặc điểm lịch sử, đã phân hóa âm nhạc thời Lý, Trần thành 02 bộ phận: âm nhạc cung đình và âm nhạc dân gian; 02 bộ phận âm nhạc này luôn có sự quan hệ tương tác với nhau: âm nhạc dân gian vẫn có chổ đứng trong triều đình và âm nhạc trong cung đình vẫn bám rễ trong  dân gian, tầng lớp nghệ sĩ vẫn được coi trọng và được phong chức.
Âm nhạc dân gian gồm có: dân ca sinh hoạt và dân ca nghi lễ ngày, càng phong phú và đi vào chính thức, tiêu biểu như: Lễ hội Cờ lau tập trận ca ngợi Đinh Tiên Hoàng; hát dặm (Hà Nam), Chèo chải, hát đúm, hát ghẹo, quan họ…
Âm nhạc cung đình (bắt đầu từ thời Lý): pha đậm màu sắc của Chăm Pa, có 3 tổ chức chính: Dàn nhạc đại (dành riêng cho Quốc Vương và dùng trong tế lễ); Dàn tiểu nhạc (sử dung cho mọi tầng lớp nhân dân); Dàn nhạc tế lễ phật giáo trong cung
Trong thời kỳ Lý- Trần, nhạc khí cũng được tiếp thu từ các nước: Trung Hoa (Đàn cầm, đàn tranh, đàn nguyệt);  Ấn Độ, Trung Á (Trông tầm bông, mõ, đàn hồ..)
3. Âm nhạc thời Lê:
- Trong thời lỳ này, nhà Lê đã tích cực chính qui hóa nền âm nhạc dân tộc, đặc biệt là âm nhạc cung đình. Sáng tạo ra loại âm luật gồm 4 cung và 02 luật:
+ 4 cung gồm có: Hoàng chung, Đại thạch, Cung nam, Cung bắc;
+ 02 luật gồm có: Luật âm kiều , luật dương kiều
 - Các thể loại ca múa nhạc bài bản và tiết mục: Nhạc tế giao; Nhạc tế miếu; Nhạc tế ngũ tự; Nhạc tế cửu nhật nguyệt giao trùng; Nhạc đại triều; Nhạc thường triều; Nhạc đại yến; Nhạc trong cung. Ngoài ra còn có các thể loại hát: hát cửa đình (ca trù; hát nhà trò); Hát ả đào; Hát nhà tơ; Hát cửa quyền; Hát cô đầu
- Nghệ thuật tuồng chèo: bước vào giai đoạn tác giả, tác phẩm; kịch bản cổ nhất còn lại đến ngày nay là vở “Huyết Hồ Phú” viết năm 1455, đến thế kỷ 18 có “ Lục súc tranh công” của Nguyễn Cư Trinh.
4. Âm nhạc thời Nguyễn:                                                                                  
- Thời kỳ này, âm nhạc dân gian đã phát triển mạnh mẽ với sự hoàn thiện của các thể loại âm nhạc cũ, tiếp tục hình thành những thể loại âm nhạc mới, tạo ra sự dung hòa nhất định giũa âm nhạc dân gian và âm nhạc cung đình. Trong quá trình Nam tiến, tiếp tục tiếp nhận tin hoa của âm nhạc phía Nam, cho nên âm nhạc dân gian ngày càng phát triển và có thêm sắc thái mới.
- Về các tổ chức dàn nhạc và nhạc khí: Nhạc cung đình ( Nhã nhạc, Nhạc huyền, Dàn đại nhạc, Dàn tế nhạc, Tổ chức ty chung ty khánh, Tổ chức ty cổ); Nhạc dân gian ở  miền Bắc có Phường bát âm, phường kèn; ở  miền Nam có Phường ngũ âm.
- Về một số thể loại ca nhạc và bài bản có: Ca nhạc thính phòng (Hát ả đào, ca Huế); Nghệ thuật sân khấu cổ truyền (Hát bội, hát chèo). Trước sự phát triển mạnh mẽ của nghệ thuật Tuồng, chèo cũng đã có ảnh hưởng nhất định, nhưng vẫn còn tiếp tục các bước phát triển của mình; nội dung của các vỡ Chèo đa phần nói lên tiếng nói của nhân dân lao động, vạch mặt bọn quan lại sâu bọ, chuyên đục khoét nhân dân, đã kích thói hư tật xấu, khiến Triều đình Phong kiến nhiều lúc lao đao.
5. Âm nhạc Việt Nam từ giũa thế kỷ 19 đến 1945:
Sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, chế độ Phong kiến mục rỗng, đã không tránh khỏi bị diệt vong; âm nhạc cung đình cũng rơi vào tình trạng bấp bênh, một số nghệ nhân cung đình ra ngoài dân gian, kết hợp âm nhạc cung đình và âm nhạc dân gian thành một thể loại mới gọi là ca nhạc Huế; thể loại này vào Nam Trung bộ trở thành “Đờn quảng”, vào đến miền Nam trở thành “Đờn ca tài tử”
Đầu thế kỷ 20, dân thực pháp bắt đầu truyền bá văn hóa phương tây vào Việt Nam, tổ chức các lớp dạy nhạc phương tây ở khắp nơi; hát ả đào dần bị thoái hóa, chủ yếu phục vụ lớp người ăn chơi sa đọa; nhưng ca khúc Huế và Đàn ca tài tử vẫn phát triển mạnh mẽ và lành mạnh ở nông thôn miền Trung và miền Nam; ca nhạc tài tử là cơ sở để hình thành sân khấu cải lương ở Nam bộ đến ngày nay; sân khấu kịch dân tộc có sự biến đổi mạnh, dẫn tới sự ra đời của cải lương, ca kịch Huế, ca kịch bài chòi.
Thời kỳ này, bắt đầu xuất hiện loại hình ca nhạc mới gọi là tân nhạc; các luồng âm nhạc của phương Tây ồ ạt tràn vào Việt Nam. Nhiều nhạc sĩ, nhiều nhóm nhạc lần lượt ra đời: Văn Cao, Đặng Thế Phong, Doãn Mẫn, Lê Thương, Văn Chung, lê Yên; Ban kèn đồng của ông Bùi Thanh Vân ở Huế, Ban kèn hơi của Triều đình vua Khải Định, Hội ca nhạc Ái hữu của ông Trần Đại Thụ ở Thanh Hóa… từ cuối thập niên 30, đầu thập niên 40 có nhiều Ban cổ động phong trào sáng tác mới: Ban Bình Minh, Ban Tân Thanh, Ban Đồng Vọng…. Căn cứ vào nội dung tác phẩm, người ta chia là 3 khuynh hướng âm nhạc chính:
+ Khuynh hướng lãng mạn(1938): chiếm tỉ lệ lớn tác phẩm, nó là tiếng nói thuộc tầng lớp tư sản thoát ly đấu tranh chính trị quay lưng lại với thực tế đen tối của xã hội đương thời, có liên quan mật thiết đến phong trào thơ mới và văn chương lãng mạn. Âm nhạc lúc bấy giờ mang tính chất giải trí, chủ đề phong phú với nhiều cảm xúc, tình cảm  khác nhau: lảng mạn, viễn vông, trốn tránh thực tại, bộ lộ tâm trạng chán chường bế tắt, gửi gắm, tình yêu quê hương đất nước. Ca khúc lãng mạng chia làm 3 hướng chủ đề:
Hướng bi ai, thường lấy mô típ mùa thu như những tác phẩm: Giọt mưa thu (Đặng Thế Phong), Lệ thu (Nguyễn Đình Phúc); Gió thu, tiếng hát đêm thu, biệt ly (Doãn Mẫn); Bẽ bàng(Lê Uyên).
Hướng mộng mơ thoát tục, với những tác phẩm:, Nghệ sĩ hành khúc (Lê Uyên); Đoàn lữ nhạc (Đỗ Nhuận); Bướm hoa (Nguyễn Văn Thương); Hồn xuân (Nguyễn Xuân Khoát)…
Hướng thôn giã:, với những tác phẩm: Cô láng giềng, Chiều quê (Hoàng Quí); Thằng Cuội (Lê Thương); Con mèo trèo lên cây cau (Lê Uyên); Cô hái mơ (Phạm Duy)…
+ Khuynh hướng hùng ca yêu nước ( 1939-1940): dòng âm nhạc lúc này là tiếng nói đấu tranh của một bộ phận tiến bộ trong tầng lớp thanh niên trí thức thành thị; khuynh hướng này thể hiện được tình cảm dân tộc, lòng yêu nước và ý tưởng dấn thân vì nghĩa cả; phổ biến là đề tài lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm phương Bắc, bên cạnh đó có những đề tài về thời cuộc, trong đó chủ nghĩa yêu nước là cảm hướng xuyên suốt trong toàn bộ tác phẩm âm nhạc.
Thời kỳ đầu là những bài ca mang nội dung khỏe khoắn trong sáng, viết cho phong trào hướng đạo của Phạm Văn Xung, Hoàng Quí… sau này có thêm một vài bài viết về cuộc đấu tranh dân tộc như của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước. Năm 1940, xuất hiện thêm ca khúc của một số nhạc sĩ được tiếp xúc với cách mạng, tham gia hoạt động trong tổ chức của Đảng với mục tiêu yêu nước, từ năm 1943 khuynh hướng này gần như nở rộ át hẳn dòng nhạc lãng mạn. Có nhiều chủ đề âm nhạc khác nhau như:
Những bài hát mang tính lạc quan, tươi sáng như: Bài ca thiếu nữ Việt Nam, Đi hội đền Hùng (Lưu Hữu Phước); Nước non Lam Sơn (Hoàng Quí)…
Những bài hát mang tính xông pha, dấn thân như: Bạch Đằng Giang, Hội nghị Diên Hồng (Lưu Hữu Phước); Trên sông Bạch Đằng, Bóng cờ lau (Hoàng Quí); Thăng Long hành khúc (Văn Cao)…
Những bài hát mang tính đau thương uất hận như: Hồn tử sĩ, Người xưa đâu tá (Lưu Hữu Phước); Lời cha già (Đỗ Nhuận)…
+ Khuynh hướng cách mạng: là khuynh hướng nghệ thuật được soi sáng bởi tư tưởng chính trị  trong giai cấp công nhân của Đảng CS Đông Dương (tiền thân của Đảng CSVN bây giờ). Ngay từ những năm 1930, đã xuất hiện những bài ca cách mạng với chủ đề đoàn kết, những ca khúc trong thời kỳ này không những chứa đựng lòng yêu nước mà còn ca ngợi phong trào cách mạng thế giới, hướng về nhà nước XHCN đầu tiên của thế giới.
Tác giả, tác phẩm thời kì đầu của dòng ca khúc cách mạng, do các chiến sĩ cách mạng sáng tác, đó là những bài ca được sáng tác tập thể cho nên khuyết danh; ca khúc mở đầu cho khuynh hướng này là: Cùng nhau đi hồng binh của Đinh Nhu (1930).
Từ những năm 1940, ca khúc cách mạng phát triển mạnh mẽ với các tác phẩm: Tam bình (Trần Văn Thục), Cờ Việt Minh (Vương Gia Khương), Cùng nhau đi Hồng binh (Đỗ Nhuận); Tiến quân ca (Văn Cao), Diệt phát xít (Nguyễn Đình Thi); Cảm tử quân (Hoàng Quí). Trong thời kỳ này, nhiều nhạc sĩ đã trở thành chiến sĩ cách mạng trên mặt trận văn hóa nghệ thuật như: Đỗ Nhuận, Văn Cao.
6. Âm nhạc Việt Nam từ 1945 đến 1954:
Đây là thời kỳ 9 năm kháng chiến chống Pháp, chính quyền cách mạng rút vào khu căn cứ Việt Bắc, tất cả các hoạt động sáng tác âm nhạc đều từ căn cứ này, có nhiều thể loại ca khúc như sau:
- Hành khúc: Đoàn Vệ quốc quân (Phan Huỳnh Điểu); Tiểu đoàn 307 (Nguyễn Hữu Trí): Vì nhân dân quân mình (Doãn Quang Khải); Nam Bộ kháng chiến (Tạ Thanh Sơn); Hành quân xa (Đỗ Nhuận)…
- Chính ca: Ca ngợi Hồ Chủ Tịch (Lưu Hữu Phước); Chào mừng Đảng CSVN (Đỗ Minh)…
- Hài hước: Anh Ba Hưng (Trần Kiết Tường); Hát mừng Bộ đội chiến thắng (Nguyễn Xuân Khoát)…
- Trữ tình: Sơn nữ ca (Trần Hoàn); Dư âm (Nguyễn Văn Tý); Bên cầu biên giới (Phạm Duy); Em đến thăm anh một chiều mưa (Tô Vũ)…
- Thiếu nhi: Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn Thiếu niên Nhi đồng, Kim Đồng, Nhanh bước nhanh Nhi đồng (Phong Nhã); Đếm sao (Văn Chung); Thiếu nhi Thế giới liên hoan (Lưu Hữu Phước); Con chim non (Trần Hoàn); Dung dăng dung dẽ (Hùng Lân)…
- Trường ca: Trường ca Sông Lô (Văn Cao); Trường ca người Hà Nội (Nguyễn Đình Thi); Bình ca (Nguyễn Đình Phúc); Liên khúc Hội nghị Diên hồng (Lưu Hữu Phước); Thiên thai, Trương Chi (Văn Cao), Hòn vọng phu I, II, III (Lê Thương)
7. Âm nhạc Việt Nam giai đoạn 1954 -1975:
Sau chiến thắng Điện Biên năm 1954, đất nước chia cắt thành 02 miền, Âm nhạc Việt Nam chuyển sang một bước phát triển mới.
Nhạc truyền thống cách mạng vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ; cùng với nhạc dân ca, nhạc truyền thống là những thể loại âm nhạc duy nhất được phát trên đài Tiếng nói Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975. Các ca khúc tập trung viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ, chống chiến tranh tại Việt Nam ngày càng nhiều, ca ngợi lý tưởng cách mạng, ca ngợi tình quân dân; cổ vũ tinh thần chiến đấu của người chiến sĩ Giải phóng quân và toàn dân tộc; bên cạnh đó, cũng có cả những bài hát trữ tình, ca ngợi tình yêu quê hương đất nước, ca ngợi tình yêu lứa đôi trong sáng thủy chung,  hoặc cổ vũ tinh thần lao động thi đua, xây dựng đất nước.
Các nhạc sĩ cách mạng vẫn tiếp tục thực hiện nhiệm vụ “Chiến sĩ trên mặt trận văn hóa…” như lời Bác Hồ đã dạy, các nhạc sĩ tiêu biểu hàng đầu trong thời kỳ này như: Lưu Hữu Phước (Huỳnh Minh Siêng); Đỗ Nhuận, Lương Ngọc Trác, sau đó tới Doãn Nho, Tô Hải, Hồ Bắc, Huy Thục, trong thời kỳ này cũng đã xuất hiện một số nhạc sĩ  mới như :Trọng Bằng, Cao Việt Bách, Hổ Thuận An, Phạm Tuyên, Huy Du, Huy Dụ, Nguyễn Văn Tý, Thuận Yến, Phạm Minh Tuấn, Trần Long Ẩn
Trong thời kỳ này các nhạc sĩ viết rất nhiều ca khúc với nhiều đề tài khác nhau, một số để tài và ca khúc tiêu biểu như:
- Kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam:
           Với các ca khúc như: Anh vẫn hành quân (Huy Du), Chào anh giải phóng quân (Hoàng Vân), Lời anh vọng mãi ngàn năm (Vũ Thành), Bài ca năm tấn (Nguyễn Văn Tý), Lá thư hậu phương (Phạm Tuyên), Trai anh hùng, gái đảm đang (Ðỗ Nhuận), Bài ca may áo (Xuân Hồng), Hành khúc giải phóng (Lưu Nguyễn Long Hưng, tức Lưu Hữu Phước), Giải phóng miền Nam (Huỳnh Minh Siêng, tức Lưu Hữu Phước)...
          -  Ca ngợi Hồ Chí Minh:
Ca ngợi hình ảnh lãnh tụ được thể hiện qua nhiều bài hát như Việt Bắc nhớ Bác Hồ của Phạm Tuyên, Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người của Trần Kiết Tường, Ðôi dép Bác của Văn An, Nhớ ơn Hồ Chí Minh của Tô Vũ, Lời ca dâng Bác của Trọng Loan, Trồng cây lại nhớ đến Người của Ðỗ Nhuận, Ca ngợi Hồ chủ tịch của Văn Cao, Tình Bác sáng đời ta của Lưu Hữu Phước...
- Phong cảnh và tâm hồn Việt Nam
Một số ca khúc như: Quảng Bình quê ta ơi của Hoàng Vân, Vàm Cỏ Ðông của Trương Quang Lục, Tây Nguyên bất khuất của Văn Ký, Bài ca Hà Nội của Vũ Thanh, Trường Sơn Ðông, Trường Sơn Tây của Hoàng Hiệp, Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh của Nguyễn Văn Tý, Những cô gái đồng bằng sông Cửu Long của Huỳnh Thơ, Cô gái Sài Gòn đi tải đạn của Lư Nhất Vũ...
- Dân tộc thiểu số:
Với các ca khúc: Tiếng đàn ta lư (Huy Thục), Cô gái cầm đàn lên đỉnh núi (Văn Ký), Bản Mèo đổi mới (Trịnh Lai), Em là hoa Pơ Lang (Ðức Minh), Bóng cây kơ nia (Phan Huỳnh Ðiểu)...
Ở miền Nam trong thời kỳ này, với sự tự do, đa dạng hơn trong sáng tác nghệ thuật, các nhạc sĩ đã viết các ca khúc thuộc nhiều thể loại: Nhạc tiền chiến, Nhạc vàng, Nhạc phản chiến, cùng với phong trào Du ca Việt Nam, Trong đó mạnh mẽ nhất là nhạc phản chiến tranh kêu gọi mọi người ngừng chiến tranh, các ca khúc với nội dung nêu lên một hình ảnh Việt Nam đau thương vì cuộc chiến, nhằm đánh trúng tâm lý chán ghét chiến tranh, mong muốn được hòa bình cho toàn dân tộc. Một số nhạc sĩ tiêu biểu: Trịnh Công Sơn (Nối vòng tay lớn, Bài ca dành cho những xác người, Gia tài của mẹ); Miên Đức Thắng (Hát từ cánh đồng hoang, Lớn mãi không ngừng); Trần Long ẨnTôn Thất Lập (Hát cùng đồng bào ta) Trương Quốc Khánh (Sức mạnh nhân dân của); Nguyễn Văn Sanh (Tình nghĩa Bắc Nam) Nguyễn Xuân Tấn (Dậy mà đi); Phạm Thế Mỹ (Hoa vẫn nở trên đường quê hương, Thương quá Việt Nam)…..
+ Phong trào Du ca Việt Nam
Du ca ra đời đúng lúc mọi người đang đòi hỏi một nền văn nghệ sống động, thức tỉnh và mới lạ. Những loại nhạc mà phong trào du ca thường sử dụng là Thanh niên ca, Thiếu nhi ca, Sinh hoạt ca, Nhận thức ca, Sử ca, Dân ca, những bài hát ca ngợi tình yêu con người và thân phận quê hương, kêu gọi thanh niên hãy tự hào, tin tưởng và hy vọng nơi tương lai.. Nhiều bài hát của du ca đã trở nên quen thuộc như Việt Nam, Việt Nam của Phạm Duy, Việt Nam quê hương ngạo nghễ của Nguyễn Đức Quang, Hát từ tim, hát bằng hơi thở của Nguyễn Quyết Thắng ….

8. Âm nhạc Việt Nam Thời kỳ xây dựng đất nước và công cuộc Công Nghiệp Hóa - Hiện Đại Hóa:

Những chủ đề sáng ca khúc chủ yếu trong giai đoạn này là:
- Ca ngợi lảnh tụ Hồ Chí Minh: Viếng lăng Bác, Miền Nam Nhớ mãi ơn người, Lời Bác dặng trước lúc đi xa...
- Ca ngợi Đảng: Huyền diệu, Đảng đã cho ta một mùa xuân...
- Ca ngợi chiến công lẩy lừng của cuộc kháng chiến như: Dáng đứng Bến Tre, 40 thế kỷ cùng ra trận, Tổ quốc yêu thương,
- Ca ngợi tình yêu quê hương đất nước và tình yêu lứa đôi: Quê Hương (Giáp Văn Thạch, thơ Đổ Trung Quân), Đất nước lời ru (Văn Thành Nho), Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh (Xuân Hồng), Huyền Thoại Mẹ (Trịnh Công Sơn), Bài ca không quên (Phạm Minh Tuấn), Thuyền và Biển (Phan Huỳnh Điểu), Gửi em chiếc nón bài thơ (Lê Việt Hòa), Giai điệu Tổ quốc (Trần Tiến)...
- Ca ngợi và phát động các phong trào lao động tập thể như Thanh niên Xung Phong: Đêm rừng Đắc Min, Em nông trường anh ra biên giới, Hồ núi Cốc, Trị An âm vang mùa xuân, Tàu anh qua núi, Đêm thành phố đầy sao, Người đi xây hồ Kẻ Gỗ, Mùa xuân từ những giếng dầu...
Các nhạc sỉ tiêu biểu trong giai đoạn này là: Diệp Minh Tuyền, Trần Long Ẩn, Thế Hiển, Nguyễn Nam, Nguyễn Văn Hiên, An Thuyên, Phó đức Phương, Phong Nhã, Trần Tiến...
Phong trào văn nghệ quần chúng phát triển mạnh mẻ. Hội âm nhạc Việt Nam được thành lập. Hằng năm đều tổ chức nhiều chuyến du khảo hội trại sáng tác theo những chủ đề do nhà nước đặt hàng.
Các trường âm nhạc, văn hoá nghệ thuật được thành lập ở các thành phố trực thuộc Trung ương và các tỉnh thành trong cả nước
B. Những nhận định, những cảm xúc về các chủ đề của tác phẩm  âm nhạc:
 
I. Dòng âm nhạc lãng mạn Việt Nam, thập niên năm 1930:
 
- Từ những năm cuối thập niên 1930, trong lúc thanh niên, sinh viên, học sinh đua nhau hát nhạc Tây bằng lời Tây thì Hà Nội, Hải phòng… đã xuất hiện lác đác những bài hát Việt Nam, với giai điệu, ca từ hoàn toàn Việt Nam.
Cho đến bây giờ đã 84 năm trôi qua, nhìn lại ta thấy rõ nền âm nhạc nước nhà đã có một bước phát triển dài, trên nhiều mặt: sáng tác, biểu diễn, sưu tầm, nghiên cứu và đào tạo. Đặc biệt trong lĩnh vực sáng tác, đã cho ra đời những bài hát lãng mạn, những khúc tình ca mà hầu hết các nhạc sĩ Việt Nam trong giai đoạn khai hoa nở nhụy đầu tiên của mình đều nói lên những cảm xúc nồng cháy, bộc lộ tâm tình sâu kín của mình đối với thiên nhiên, đối với quê hương làng xóm, đối với những người thân yêu.
     Những nét nhạc, lời ca, bật ra một lúc xuất thần nào đó đã để lại dấu ấn của tác giả và gieo vào lòng người nghe những ấn tượng khó phai mờ. Có những ca khúc người ta hát say mê mà không hề biết tên tác giả là ai. Chính những điều đó chứng minh sức mạnh truyền cảm của tác phẩm mà đến nay, trãi qua 84 năm, vẫn còn sống mãi trong lòng người nghe.
Nhạc sĩ Phú Quang đã tâm sự: “ Tôi tìm đến bài ca như đó là phương cách duy nhất, hữu hiệu để làm lắng dịu đi những bấn loạn của nội tâm mình. Khởi điểm của tôi trong việc viết ca khúc chỉ nhằm mục đích tự giải thoát khỏi những ám ảnh của một đời sống đầy cảm xúc về thân phận, về tình yêu. Tôi đã viết như lời tự thú chân thành cho những kỷ niệm chẳn thể nào quên, đã đến, đã đi qua cuộc đời mình với hy vọng tìm thấy cho mình sự thanh thản khi bài ca được vang lên. Nhưng chính khoảnh khắc đầu tiên bài ca của tôi đã đến đượcvới mọi người, thì cũng là lúc tôi hiểu thêm một điều: “ kẻ đã trót dấn thân vào trò chơi sáng tạo, sẽ là kẻ hành xác mình đến cùng trong cuộc kiếm tìm chẳng chút bình yên”
 
2. Âm nhạc truyền thống (nhạc cách mạng)
 
- Suốt hơn nữa thế kỷ qua, tuy hoàn cảnh ác liệt, chiến trường chia cắt, nhưng Miền Nam vẫn ngóng về phương Bắc, hướng về Trung ương, hướng về Bác Hồ mà tin tưởng, hy vọng và cùng hát vang bài ca cách mạng.
- Rất nhiều ca khúc đã ra đời trên mảnh đất từ Bình Trị Thiên trở vào, qua hai mùa kháng chiến đã tạo nêm một sắc thái riêng của chiến trường đầy máu và hoa. Đã cổ vũ hàng triệu trái tim của người con Miền Nam cùng cả nước đi lên và chiến thắng. Thời gian trôi qua, đất nước đã thanh bình vang khúc  hoan ca, nhiều bài ca đã đọng lại trong trái tim bao người va trở thành ký ức không thể nào quên, đó là 50 năm Miền Nam ca hát, đã phản ánh  những  giai đoạn đấu tranh chống giặc ngoại xăm hào hùng của dân tộc ta.
- Một nhận định nữa về những bài ca Trường Sơn: “ Nói đến Trường Sơn là nói đến con đường mòn Hồ Chí Minh lịch sử mà hàng triệu  đã vượt núi, băng rừng, chi viện cho miền Nam ruột thịt. Biết bao nhiêu câu chuyện về con đường Trường Sơn lịch sử đó,về những con người đã từng sống, chiến đấu và cũng không biết bao nhiêu con người đã ngã xuống trên dãy Trường Sơn hùng vĩ, ngày nay đã trở thành huyền thoại.
Có lẽ chưa có giai đoạn lịch sử hào hùng nào của dân tộc ta lại có nhiều bài hát như trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong đó đề tài viết về Trường Sơn đã tạo nên những cảm xúc dồi dào cho những tác phẩm nghệ thuật nói chung và âm nhạc nói riêng.
Ngày nay, dù chiến tranh qua đi đã gần 40 năm, như những giai điệu trong sáng, hào hùng và đầy chất trữ tình vẫm còn âm vang lưu lại mãi trong lòng nhân dân
Từ “Bài ca trường Sơn” của Trần Chung và Gia Dũng cho đến “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây” của Hoàng Hiệp và Phạm Tiến Duật, từ “Bước chân trên dãy Trường sơn của Vũ Trọng Hối hay “Gặp nhau trên Đỉnh Trường Sơn” của Phạm Tuyên cho đến “Tiếng đàn Ta –Lư” của của Huy Thục, “ Bài ca bên cánh võng” của……… và còn biết bao nhiêu tác phẩm của nhiều tác giả vẫn lưu lại trong lòng người những nét đẹp của một thời. Nó đã trở thành những “Bài ca không quên” như Phạm Minh Tuấn đã viết…
 Những bài ca viết về Trường Sơn đã để lại những giá trị văn hóa âm nhạc qua các bài ca của nhiều tác giả đã viết trong giai đoạn lịch sử vô cùng tự hào của dân tộc, và những âm thanh phi vật thể đó sẽ được lưu giữ lại cho thế hệ hôm nay và mai sau, đặc biệt là đối với thanh niên để tiếp tục sư nghiệp của lớp người đi trước…(Nhạc sĩ Huy Du)
 
3. Ca  khúc  ca ngợi Bác Hồ:
Chủ tịch Hồ Chí Minh là nguồn cảm hứng cho nhiều nhạc sĩ, nhà thơ sáng tác nhiều tác phẩm. Những ca khúc cất lên từ trái tim mỗi người dân việt Nam ca ngợi Bác Hồ - người chiến sĩ cả cuộc đời hi sinh vì Tổ Quốc và con người Việt Nam.
 Nhạc sĩ Thuận Yến đã nói: "Trong mỗi chúng ta luôn sẵn có sự tôn kính, tình yêu thương, ngưỡng mộ và lòng biết ơn vô bờ bến đối với Bác nên chỉ cần một bài hát nào đó nói lên được những tình cảm ấy là họ chấp nhận... Đó là đề tài vô tận không bao giờ vơi cạn trong mỗi người sáng tác". (nhạc sĩ Thuận Yến đã có tới 26 bài hát viết về Hồ Chí Minh)
Các sáng tác tập trung ca ngợi về Hồ Chí Minh như là một vị cha già dân tộc và là người có tấm lòng bao la đối với người Việt Nam, những tác phẩm này thường được lưu hành rộng rãi trong xã hội Việt Nam. Nét chung là các nhạc sĩ sáng tác đa số là người Việt Nam nhưng cũng có những sáng tác của các nhạc sĩ nước ngoài.
Nhiều cuộc "Thi sáng tác ca khúc về Hồ Chí Minh" đã được tổ chức, như Đài truyền hình TP HCM cũng vài lần tổ chức cuộc thi "Vận động sáng tác ca khúc về Hồ Chí Minh" để "nêu cao được tinh thần cách mạng và tấm gương đạo đức của Bác, qua đó nhằm nâng cao vai trò quan trọng của đạo đức trong mỗi công dân", Sở Văn hoá - Thông tin Quảng Ninh tổ chức cuộc thi "Hát những ca khúc về Hồ Chủ tịch"... Năm 2005, Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp với Nhà xuất bản Thanh Niên đã phát hành tuyển tập 115 ca khúc với nhan đề "Hồ Chí Minh - Người sống mãi với non sông".
Một số ca khúc nỗi tiếng viết về Bác Hồ kính yêu:
·  Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn các em nhi đồng" (Phong Nhã)
·  "Bác đang cùng chúng cháu hành quân" (Huy Thục)
·  "Bác Hồ sống mãi với Tây Nguyên" (Lê Lôi)
·  "Bác Hồ, một tình yêu bao la" của (Thuận Yến):...Bác thương các cụ già xuân về gửi biếu lụa, Bác yêu đàn cháu nhỏ Trung Thu gửi cho quà. Bác thương đoàn dân công đêm nay ngủ ngoài rừng, Bác thương người chiến sĩ đứng gác ngoài biên cương..."
·  "Bác Hồ - Người cho em tất cả" (Hoàng Long, Hoàng Lân, thơ Thu Phong)
·  "Bác Hồ trên đỉnh Trường Lệ" (Lê Đăng Khoa) [6]
·  "Bài ca dâng Bác" (Trọng Loan)
·  "The Ballad of Ho Chi Minh" (Bài ca Hồ Chí Minh) của nhạc sĩ người Anh Ewan MacColl: ...From VietBac to the SaiGon Delta. Marched the armies of Viet Minh. And the wind stirs the banners of the Indo-Chinese people. Peace and freedom and Ho Chi Minh...
·  "Bài ca về đồng chí Hồ Chí Minh" (Nhạc sĩ người Nga Vladimir Fere)
·  "Bé yêu Bác Hồ" (Đỗ Nhuận)
·  "Bên lăng Bác Hồ" (Dân Huyền)
·  "Bên ta như có Bác" (Lê Đăng Khoa) [6]: Ði khắp năm châu hiếm có ai như Bác. Cuộc đời giản dị, tình người bao la. Như có Bác bên ta đang cùng nhau lội đồng, thăm những công trình nhà máy vút cao. Như có Bác bên ta trên giảng đường học tập. Chắp cánh cho ta bay xa, bay xa.
·  "Bên tượng đài Bác Hồ" (Lê Giang)
·  "Biết ơn cụ Hồ" (Lưu Bách Thụ)
·  "Buổi sáng nhớ Bác"
·  "Ca ngợi Hồ Chủ tịch" (Văn Cao): Người về đem tới ngày vui. Mùa thu nắng toả Ba Đình. Với tiếng Người còn dịu dàng như tiếng đất trời. Người về đem tới xuân đời từ đất nước cằn, Từ bùn lầy cả cuộc đời vùng lên.
·  "Ca ngợi Hồ Chủ tịch" (Lưu Hữu Phước): Hồ Chí Minh sáng ngời gương đấu tranh. Vững bền đưa chúng ta vượt khó khăn. Hồ Chí Minh muôn năm chỉ lối cho nhân dân. Đến ngày chiến thắng vẻ vang.
·  "Cảm ơn đường Hồ Chí Minh" của Norodom Sihanouk (Campuchia)[7]
·  "Chúng con bên giấc ngủ của Người" (Nguyễn Đăng Nước)
·  "Dâng Người tiếng hát mùa xuân" (Nguyễn Văn Thương)
·  "Dấu chân phía trước" (Phạm Minh Tuấn)
·  "Đêm nghe hát đò đưa nhớ Bác" (An Thuyên)
·  "Đêm Trường Sơn nhớ Bác" (Trần Chung)
·  "Đôi dép Bác Hồ" (Văn An, phổ thơ Tạ Hữu Yên):... Đôi dép đơn sơ đôi dép Bác Hồ Bác đi từ ở chiến khu Bác về, Bác đi từ ở chiến khu Bác về. Phố phường trận địa nhà máy đồng quê đều in dấu dép Bác về...
·  "Em mơ gặp Bác Hồ" (Xuân Giao): "Đêm qua em mơ gặp Bác Hồ, râu Bác dài tóc Bác bạc phơ"
·  "Em về quê Bác Hồ" (Hồ Tĩnh Tâm)
·  "Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh" (Trần Hoàn)
·  "Gửi tới Bác Hồ" (Kapapúi, lời Việt của Tường Vi)
·  "Hát mừng Bác Hồ vĩ đại" của nhạc sĩ Suphat Mukhophathiai (Ấn Độ): “Ôi Hồ Chí Minh, Người vĩ đại biết bao!”[7]
·  "Ho Chi Minh" của nhạc sĩ người Đức Kurt Demmler[7]
·  "Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người" (Trần Kiết Tường): ...Trên cánh đồng miền Nam, đau thương mây phủ chân trời. Khi ca lên Hồ Chí Minh, nghe lòng phơi phới niềm tin...
·  "Hồ Chí Minh là cả một bài thơ" (Nhạc sĩ người Cuba Felis Pita Rogerigate)
·  "Hoa sen Tháp Mười" (Trương Quang Lục)
·  "Inolvidable Ho Chi Minh" (nhạc sĩ Venezuela Alí Primera)
·  "Jose Marti Hồ Chí Minh" (Nhạc sĩ Cuba Armando Cardoso)
·  "Làng Chăm ơn Bác" (Nhạc sĩ người Champa AmưNhân)
·  "Lãnh tụ ca" (Lưu Hữu Phước) [8]
·  "Lời Bác dặn trước lúc đi xa" (Trần Hoàn): Chuyện kể rằng trước lúc Người ra đi, Bác muốn nghe một câu hò xứ Huế. Nhưng không gian. vẫn bốn bề lặng lẽ, Bác đành nằm im...
·  "Mỗi dòng thư Bác sáng ngời niềm tin" (Thuận Yến)
·  "Miền Nam nhớ mãi ơn Người" (Lưu Cầu)
·  "Miền Trung nhớ Bác" (Thuận Yến)
·  "Ngọn cờ Hồ Chí Minh" (Nhạc sĩ Cuba Carlos Puebla, lời Việt của Hồ Bắc)
·  "Nhớ hình ảnh Bác Hồ với nông dân" (Lê Đăng Khoa) [6]
·  "Nhớ ơn Bác" (Phan Huỳnh Điểu)
·  "Nơi Bác ở" (Lê Đăng Khoa) [6]: Ngôi nhà sàn bé nhỏ, nơi Bác ở đạm bạc. Cỏ non vờn chân Bác. Gió hát chiều xốn xang. Người ra đi, căn phòng vẫn lộng gió. Ấm áp tình người như Bác vẫn đâu đây
·  "Ngợi ca chủ tịch Hồ Chí Minh" (Nhạc sĩ người Đức Jeans Chourfores)
·  "Người là niềm tin tất thắng" (Chu Minh): Đất nước nghiêng mình đời đời nhớ ơn. Tên người sống mãi với non sông Việt Nam. Lời thề sắt son theo tiếng bác gọi, bốn ngàn năm dồn lại hôm nay, người sống trong muôn triệu trái tim... Thế giới nghiêng mình, loài người tiếc thương. Đây người chiến sĩ đấu tranh cho tự do. Người là ước mơ của các dân tộc. Tiếng người vang vọng đến mai sau. Nguyện ước theo con đường Bác đi...
·  "Người mang tấm áo Bác Hồ"
·  "Người sống mãi trong lòng miền Nam" (Nguyễn Đồng Nai)
·  "Người về thăm quê" (Thuận Yến)
·  "Nhật ký trong tù" (Nhạc sĩ người Anh George Feris phổ nhạc 7 bài thơ ông ưng ý nhất trong tập thơ này)
·  "Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng" (Phạm Tuyên)
·  "Những bông hoa trong vườn Bác" (Văn Dung)
·  "Quyền sống trong hòa bình" (The Right of Living in Peace) nhạc của Víctor Jara (Chile): "Nhà thơ Hồ Chí Minh – Đưa quyền sống hòa bình – Từ Việt Nam ra toàn nhân loại...”[7]
·  "Suối Lê Nin" (Phạm Tuyên)
·  "Tây Nguyên mừng đón thơ Bác" (Doãn Nho)
·  "Tây Nguyên nhớ Bác Hồ" (Kapapúi - lời Tường Vi)
·  "Teacher Uncle Ho" (Thầy giáo Bác Hồ) của nhạc sĩ người Mỹ Pete Seeger: ...I'll have to say in my own way. The only way I know, that we learned power to the people and the power to know. From Teacher Uncle Ho!
·  "Tấm áo Bác Hồ" (Thuận Yến)
·  "Tấm ảnh Bác Hồ" (Lưu Hữu Phước)
·  "Thăm bến Nhà Rồng" (Trần Hoàn)
·  "Thanh niên làm theo lời Bác" (Hoàng Hà)
·  "Tiếng hát giữa rừng Pắk Pó" (Nguyễn Tài Tuệ)
·  "Tiếng hát từ thành phố mang tên Bác" (Cao Việt Bách)
·  "Tình Bác sáng đời ta" (Lưu Hữu Phước)
·  "Trông cây lại nhớ Người" (Đỗ Nhuận)
·  "Tuổi trẻ thế hệ Bác Hồ" (Triều Dâng)
·  "Từ làng Sen" (Phạm Tuyên)
·  "Vâng lời Bác Hồ" (Lưu Bách Thụ)
·  "Vầng trăng Ba Đình" (Thuận Yến)
·  "Viếng Lăng Bác" (Hoàng Hiệp, phổ thơ Viễn Phương)
·  "Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ" (Nhạc sĩ Nga Vladimir Fere, lời Việt của Đỗ Nhuận)
 
4. Chủ đề về người phụ nữ, về mẹ:
Những “Bài ca phụ nữ Việt Nam” đã phần nào vẽ nên chân dung của người phụ nữ Việt Nam qua nhiều thế hệ và trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong đó, đạm nét hơn hết là những tấm gương của người phụ nữ trong thời đại mà “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Mặc khác, chúng ta sẽ còn nhận thấy các nhạc sĩ đã dành những giai điệu lời ca đậm đà tình cảm nhất để viết về những người mẹ. Ngoài ra cũng không thiếu những ca khúc thể hiện tính nhân hậu, nét duyên dáng, đẹp xinh của các thiếu nữ, những đóa hoa tươi của đời.
Một số ca khúc đã đi vào lòng người như:
Ca ngợi những người phụ nữ bất khuất: Biết ơn Võ Thị Sáu (Nguyễn Đức Toàn); Câu hát bông Sen (Thanh Trúc); Cô gái mở đường (Xuân Giao); Đất quê ta mênh mông (Hoàng Hiệp – Dương Hương Ly)
Ca ngợi người mẹ về những tấm lòng nhân hậu thủy chung: Lòng mẹ (Y Vân); Bông hồng cài áo (Phạm Thế Mỹ); Mẹ (Phan Long – Đoàn Ngọc Thu); Hòn vọng phu (Lê Thương); Người mẹ của tôi (Xuân Hồng)…
5. Ca khúc viết về thiếu niên nhi đồng:
* Âm nhạc nói chung và ca hát nói riêng, là nhu cầu hết sức cần thiết trong đời sống tinh thần của trẻ em. Từ bao đời nay, trong nhân dân ta đã lưu truyền những bài đồng dao, những câu nói vần, hát đố. Rãi rác ở nông thôn có một số bài dân ca của tuổi nhỏ, hát trong những đêm trăng ngày mùa, trong khi chới các trò chơi đánh chuyền, đánh chắt, nu na nu nống, dung dăng dung dẻ v.v… Nhưng những cac khúc cho trẻ trước Cách mạng tháng Tám thì quả thật quá hiếm hoi : chưa có bài hát nào cho thiếu nhi và phong trào thiếu nhi ca hát  - một nhu cầu tự thân bức thiết của tuổi nhỏ dường như đã bị lãng quên.
Có thể thể nói rằng trước Cách mạng táng Tám ở Việt Nam chưa có âm nhạc cho thiếu nhi và cũng chưa có một nền âm nhạc dành riêng cho các em thiếu nhi.
Cho đến nay, những hoa thơm quả ngọt của vườn cây âm nhạc thiếu nhi đã và đang nở rộ. Con đường 50 năm, đối với chiều dài lịch sử dù ngắn ngủi nhưng cũng đủ để hình thành và phát triển một nền âm nhạc dành riêng cho tuổi nhỏ thật phong phú. Từ chỗ lẻ tẻ chỉ có vài dăm ba bài hát thời kì trước Cách mạng tháng Tám, đén chỗ xuất hiện hàng trăm bài hát ở khắp nơi trong 50 năm qua. Từ chỗ chỉ có rất ít ỏi số người viết nhạc cho trẻ em đã hình thành cả một đội ngũ khá đông đảo, hùng hậu những nhạc sĩ trình độ chuyên môn, hoạt động trên các lĩnh vực : sáng tác, dàn dựng, tổ chức biễu diễn. Bên cạnh các nhạc sĩ chuyên nghiệp là các nhà giáo, các cán bộ phụ trách thiếu nhi có trình độ âm nhạc nhất định, có nhiệt tình, yêu trẻ. Giới sáng tác không chuyên đã đóng góp khá mạnh mẽ vào những thành tựu của nền ca khúc thiếu nhi Việt Nam.
Âm nhạc đã trở thành một bộ phận khá quan trọng, gắn bó mật thiết với bước đường trưởng thành của những chủ nhân tương lai của xã hội. Nó là một bộ phận có mối quan hệ hữu cơ với việc xây dựng và phát triển một khối công chúng âm nhạc rộng rĩ trong cả nước, mà thành tựu đã được khẳng định trong 50 năm qua.
 
*Vài nét về âm nhạc thiếu nhi trước Cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống thực dân Pháp
Trước cách mạng tháng Tám, bài hát thiếu nhi rất hiếm, người viết nhạc cho trẻ em có thể đém được trên đầu ngón tay. Sau Cách mạng, khi các tổ chức thiếu nhi ra đời mới chính thức có những ca khúc cho thiếu nhi. Các bài hát thiếu nhi thường được lưu hành trong các tổ chức thiếu nhi rồi lan truyền đi từng vùng, miền : Có thể kể đến hoạt động của các tổ chức “Sói con”, của nhóm “Đồng Vọng” với Hoàng Quý, Hoàng Phú, Phan Huỳnh Tuấn, Lưu Hữu Phước v.v … với những bài sử ca như: Bóng cờ lau, Trên sông Bạch Đằng, nước non Lam Sơn, Theo vết người xưa … tuy không hẳn là những bài hát viết riêng cho thiếu nhi nhưng đã được các em hát rất say mê. Một số bài hát thiếu nhi sáng tác sau Cách mạng tháng Tám rất trong trẻo, hào hứng, tươi vui, được phổ biến cho các em cho các em qua các cán bộ phụ trách.
Những bài hát tiêu biểu trong kháng chiến chống thực dân Pháp òn đọng lại ở nhiều thế hệ thiếu nhi như: reo vang bình minh, Thiếu nhi thế giới liên hoan của Lưu Hữu Phước; Lì xì và Sáo của văn Chung; Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn Thiếu niên nhi đồng... có thể xem như đó là những cái mốc lịch sử, những bức tranh đậm nét, giàu mầu sắc đã vang vọng suốt chiều dài cuộc kháng chiến, cho tới các thời kỳ tiếp theo, đặc biệt,âm điệu bài Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn Thiếu niên nhi đồng đến nay vẫn gần gũi thân thiết trong trái tim hàng triệu người Việt Nam.
Ở Miền Trung, có một số nhạc sĩ trong chi hội văn nghệ khu IV đã viết những bài ca thiếu nhi được phổ biến rộng rãi ở đại phương (khoảng những năm 1948 – 1950) như Nguyễn Văn Thương, Văn Ký, Trần Hoàn v.v...đó là những bài ca phản ánh những nét sinh hoạt của tuổi nhỏ trong kháng chiến như: Con chim non, Đàn chim xanh của Trần Hoàn; Học sinh tiến lên, Cánh chim hòa bình của Phan Trần Bảng v.v...
Ở Liên khu V, các nhạc sĩ cũng đã đóng góp phần nào cho nhu cầu ca hát của các em nhỏ những bài hát xinh xẻo như: Đời học sinh của Phan Huỳnh Điểu; Ánh bình minh của Văn Đông; Anh có về Việt Bắc, Đố cờ của Trương Quang Lục.
Ở Nam Bộ, cũng có bài hát: Mong Bác Hồ vào Nam là một ca khúc cảm động của nhạc sĩ Hoàng Việt và Minh trị, nói lên những tình cảm chân thành của thiếu nhi Nam Bộ với Bác Hồ kính yêu.
Các nhạc sĩ sống trong các vùng tạm chiếm (Hà Nội, Sài Gòn...) cũng có những sáng tác đáng kể cho các em với nội dung lành mạnh, trong trẻo, hồn nhiên, tươi tắn được phổ biến trong học sinh nội thành. Nội dung các bài hát thường nhắc nhở đến lịch sử, quê hương, gợi những chiến công của các anh hùng dân tộc, về lòng yêu nước thương nòi, về cảnh sắc thiên nhiên hoặc về tình cảm gia đình, về những con vật gần gũi với các em nhỏ hè về, Thằng Cuội, Tuổi thơ, Học sinh hành khúc, Con mèo trèo cây cau của Lê Thương...)
* Âm nhạc Thiếu nhi từ 1954 đến 1975:
Giai đoạn 1954 – 1964: Đây là thời kỳ đánh dấu bước phát triển mới trong sự nghiệp sáng tác âm nhạc cho Thiếu nhi. Nhiều bài hát đã được phổ biến rộng rãi như: Đôi nơ trắng của Mạc Hy, Cái đồng hồ của Văn Nhân, Lá cờ Việt Nam của Đỗ Mạnh Thường và Lí Trọng, Vui tết Trung thu của Phan Huỳnh Điểu, Tổ quốc ta của Mộng Lân, Chiếc khăn hồng của Lê Đình Lực, Con Chim thắc mắc của Lân Tuất... đặc biệt, hai bài: Kam là mần non của Đảng của Mộng Lân và Tiến lên đoàn viên của Phạm Tuyên ra đời vào những năm 1954 – 1956, đã có sức cuốn hút mạnh mẽ nhiều lớp thiếu nhi hướng theo lý tưởng cách mạng.
Một số bài hát xinh xẻo, thú vị dành cho lứa tuổi mẫu giáo đáng yêu: Đoàn tàu nhỏ của Mộng Lân, Ánh trăng hòa bình của Hồ Bắc, Xỉa cá mè của trương Quang Lục, Bông hoa mừng cô của Trần Thị Duyên, Ra vườn hoa của Văn Tấn... người có nhiều bài hát dành cho lứa tuổi mẫu giáo thời kì này là Việt Anh với các bài: Vào rừng hoa, Cưỡi ngựa tre, Tìm bạn thân, Ông trăng tròn, Chơi bập bênh...
* Âm nhạc Thiếu nhi từ 1975  đến nay:
Đội ngũ những nhạc sĩ sang tác cho thiếu nhi  đã hình thành ban đầu từ những năm 60 đến thời kỳ này đã trưởng thành và lớn mạnh hẳn lên. Ngoài những nhạc sĩ đàn anh chuyên sáng tac phục vụ trẻ em, tên tuổi đã trở nên quen thuộc với đông đảo công chúng nhỏ tuổi như: Phong nhã, Văn Chung,  Nguyễn Xuân Khoát, Lưu Hữu Phước….Từ các tỉnh thành, thành miến Trung, miền Nam cũng đã xuất hiện những tên tuổi mới ngày càng trở nêm quen thuộc với thiếu nhi như: Trương Xuân Mẫn, Huy Hùng, Thái Nghĩa, Phan Văn Minh, Hình Phước Liên, Trịnh Công Sơn, Phạm Trọng Cầu, Phạm Minh Tuấn, Vũ Hoàng, Nguyễn Ngọc Thiện và nhiều nhạc sĩ khác… Một lực lượng sáng tác trẻ, hùng hậu, được đào tạo vững vàng về chuyên môn, nhiều say mê và tâm huyết với trẻ em từ các tỉnh, thành phố trong cả nước…Ở đâu cũng có những bài hát mơi cho các em, hiều trường học đã có những bài ca cho từng trường… đội ngũ người làm âm nhạc “Vì trẻ thơ” ngày càng đông đảo, luôn được bổ sung, phát triển; có nhiều nhạc sĩ chuyên phối âm, tổ chức biểu diễn, thu âm có trình độ nghề nghiệp chắc chắn. Rõ ràng, một nềm âm nhạc thiếu nhi đã được hình thành và ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Những bài hát Thiếu nhi ra đời trong những giai đoạn lịch sử vừa qua, đã đáp ứng nhu cầu cấp thiết của tuổi thơ cả nước, đồng thời cũng đáp ứng một cách nhạy bén các yêu cầu của các cách mạng trong từng giai đoạn. Mỗi thời kỳ đều có những bài hát hay, có chất lượng nghệ thuật, đọng lại, lắng sâu trong tình cảm Thiếu nhi. Số bài hát hay cho các lứa tuổi mẫu giáo, nhi đồng, thiếu nhi, kể ra  có tới hàng vài trăm bài; mỗi bài một vẽ, chẳng khác gì những bông hoa xinh xắn vừa có sắc vừa có hương trong vườn hoa âm nhạc thiếu nhi đã và đang nở rộ. Từ chỗ sáng tác một cách lẻ tẻ, tự phát, đã có những cuộc vận động tưng bừng, rầm rộ. Đời sống âm nhạc trẻ em ngày càng sinh động hơn
Trong ngôn ngữ âm nhạc thiếu nhi, nhiều bài đã bám chắc âm hưởng dân tộc đậm đà, tiếp thu và kế thừa di sản âm nhạc của ông cha một cách thông minh, sáng tạo. Phong cách nhạc nhẹ cũng có ảnh hưởng tốt tới nhiều ca khúc trẻ em, tạo nên chất sôi động, khẩn trương phù hợp với cuộc sống hiện đại.
Yêu cầu tình cảm của các em thiếu nhi Việt nam đã được giới nhạc sĩ, những người làm công tác âm nhạc đáp ưng một phần đáng kể. Ảnh hưởng của nó vô cùng rộng lớn trong việc góp phần vào sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ phat triển toàn diện, hài hòa, trở thành những con người chủ nhân xứng đáng của xã hội tương lai.
6. Ca khúc viết về Hà Nội:
Những giai điệu lịch sử đã rầm lên trong hồi trống như sấm rền qua Thiên đô chiếu của Lý Thái Tổ (năm 1010). Đúng vậy, âm nhạc đã reo vang từ đó với ý chí mưu nghiệp lớn của ông cha ta khi định đô tại Hà Nội. Phải chăng những bài ca tháng 10 của năm mươi năm giải phóng Thủ đô đã ghi đậm những dấu ấn của áng văn thơ lừng danh của Lý Thường Kiệt tại Thăng Long xưa “Nam quốc hơn hà, Nam đế cư…” và những bài ca tháng 10 ấy cũng vang lên âm hưởng khí thế hừng hực của ngọn lửa. Thăng Long thành khi chống giặc ngoại xâm trải qua bao nhiêu thời kỳ sóng gió. Và ở ấy, những bài ca Thăng Long Hà Nội đã bừng lên sau những bước hành quân Tiến về Hà Nội (Văn Cao), Hà Nội niềm tin và huy vọng (Phan Nhân)…Thật khó để kể hết bởi hằng trăm nhạc sĩ đều đã dành cho Hà Nội một tình yêu thân thương nhất và trong tâm hồn mỗi người đến nay đều vang lên những giai điệu đặc sắc để ca ngợi Thủ đô: Bài ca Hà Nội, Hà Nội mùa thu (Vũ Thanh); Chiều Hà Nội (Vũ Quang Trung); Ha Nội ơi thầm hát trong tôi (Phạm Minh Tuấn); Đêm Hồ Gươm (Trần Hoàn)…
 
7. Cảm nhận với những ca khúc viêt về “Dòng sông”:
Đất nước ta là một xứ sở được tạo hóa ban tặng cho một thiên nhiên kỳ thú, chẳng những có cả một biển mênh mông bao bọc phía Đông, lại còn có rất nhiều núi, sông, kenh suối… đặc biệt là những dòng sông chở năng phù sa, bồi đắp đôi bờ dất mật, tạo nên những cánh đồng phì nhiêu tit61 tắp, Sông uốn êm ả, hiền hòa, lững lờ trôi theo năm tháng, in đậm những ký ức, tâm hồn của bao người dân cần cù
Sông lại có lúc dữ dằn, cuồn cuộn mưa lũ như thách thức bản lĩnh của con người quanh năm ngày tháng gắn bó bên sông. Và với người Việt ta, sông đâu chỉ trong xanh, mơ mộng mà sông như những chứng nhân trong suốt hàng ngàn năm đo, sông cũng bao phen trào dâng, sôi sục, đỏ ngầu máu giặc ngoại bang.
Sông cũng cùng dân tộc từng đau thương, uất hận, để rồi vùng lên ca khúc khải hoàn, làm nên bản đại hợp xướng chiến thắng, và rất nhiều dòng sông trên tổ quốc ta đã chảy vào âm nhạc suốt hơn nữa thế kỷ qua, tạo những ca khúc bất hủ: Ai về sông tương (Thông Đạt); chào sông Mã anh hùng (Xuân Giao); Con kênh xanh xanh (Ngô Huỳnh); Vàm cỏ đông (Trương Quang Lục); Trở về dòng sông tuổi thơ (Hoàng Hiệp); Qua sông (Pham5Minh Tuấn)…
 
8. Cảm nhận về những ca khúc Cần Thơ:
… Đất Trấn Giang – Tây Đô – Cần Thơ là quê hương của các bậc sĩ phu, nhà thơ yêu nước như: Bùi Hữu Nghĩa, một trong bôn rồng vàng của đất Đồng Nai xưa, nhà thơ Phan văn trị, Le Quang Chiểu v.v… Nơi sản sinh ra Nhà giáo ưu tú Châu Văn Liêm, một trong những vị lãnh tụ thành lập Đảng CSVN; nơi hội tụ những nhà soạn tuồng, những nhạc sĩ nổi tiếng trong cả nước như: Mộc Quán – Nguyễn Trọng Quyền, Giáo sư – Viện sĩ – Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước và các nhạc sĩ khác như: Phạm Công Nhiề, Đắc Nhẫn, Trần Kiết Tường, Triều dâng v.v… đã góp phần làm rãng rỡ âm nhạc Việt Nam.
Vùng đất Tây Đô – Cần Thơ “đất lành chim đậu”. Có lực hút các nhạc sĩ ở mọi miền đất nước về dây mang theo trong lòng voi bao niềm tran trở, ấp ủ nuôi dưỡng những cảm xúc đẹp đẽ, cho ra đời nhiều ca khúc phản ánh một cách chân thật phong phú, đa dạng về con người, cảnh vật thiên nhiên, về truyền thống đấu tranh và kiến tạo cuộc sống của một quá trình khai phá - hình thành – phát triển vùng đất Trấn giang – Tây Đô – Cần Thơ.
Làm sao quên được những âm thanh, lời ca quật khởi thúc giục lòng người xông tới giành chính quyền trong  những ngày Cách mạng Tháng tám, của bài “Tiếng gọi thanh niên (Lưu Hữu Phước – Hoàng Mai Lưu), Nam bộ khang chiến (Tạ Thanh Sơn). Quân và dân Tây Đô – Cần Thơ “nóp với giáo” lên đường khang chiến chống Phap, để rồi vài năm sau làm nên chiến thắng tầm Vu vang dội. và, người con của đấ Ô Môn – nhạc sĩ Đắc Nhẫn, được cả nước biết đến tên tuổi qua bài hát Tầm Vu (lời Quốc Hương)
Rồi tiếp nối là những chuỗi ca khúc: Khi thành phố chúng ta xuống đường (Thanh Trần), Cần Thơ gạo trắng nước trong (Đắc Nhẫn), Trăng về Cần Thơ (Thế Phương – Nguyễn Bá), Hành quân về thành phố (Lưu Nhất Vũ – Lê Giang)… gợi cho ta nhớ một thời chiến tranh chống Mỹ, giải phóng đất nước.
Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, cần Thơ ngày càng gặt hái được những mùa ca khúc với bình diện đề tài thật rộng mở và hết sức phong phú, đa dạng. Những tên người, tên đất, tên sông… là nguồn cảm hứng được các nhạc sĩ ở khắp mọi miền đất nước khai thác trong tác phẩm của mình như: Chiều trên bến Ninh Kiều (Trần Kiết tường), Đàn sáo Hậu Giang (trần Long Ẩn, Cần Thơ một khúc ca (Phạm Tuyên), Cô gái Cần Thơ (Lưu Nhất Vũ – Lê Giang), Tiếng hò Sông Hậu (Minh Luân), Tạm biệt Tây Đô (thế Bảo), Qua cầu Thơm Rơm (Lê Giang – Hoàng Hiệp), Tình má Hậu Giang (Phan Huỳnh Điểu) v.v…
Phải nói rằng vùng đất “Cần Thơ” và con người Cần Thơ được thừa hưởng một “gia tài ca khúc có giá trị nghệ thuật. Những ca khúc chào đời với nhiều hoàn cảnh khác nhau, đã sống với dòng chảy của thời gian và được động đảo người nghe tán thưởng, đón nhận…
(Nhạc sĩ Lưu Nhất Vũ)
 
Sưu tầm và biên soạn
    Võ Thị Mỹ Dung
 
* Đã sử dụng các tài liệu:
- Giáo trình Lịch sữ âm nhạc Thế giới, lịch sử âm nhạc Việt Nam (Nhạc Viện TP. Hồ Chí Minh)
- Tuyển tập ca khúc 50 năm miền Nam ca hát - NXB
- Tuyển tập Hát mãi với Trường Sơn- NXB Thanh Niên
-  Tuyển tập ca khúc tiền chiến- Nhà xuất bản trẻ
- Tuyển tập ca khúc Người là niềm tin chiến thắng – NXB VHTT Hà Nội
- Tuyển tập Giai điệu Cần Thơ
- Tuyển tập Hà Nội Trái tim hồng – Nhà xuất bản Thanh niên
- Tuyển tập Giai điệu Cần Thơ – Hội VHNT Cần Thơ
- Tuyển tập Khúc hát dòng sông –NXB Thanh Niên
- Tuyển tập bài ca phụ nữ Miền Nam – NXB Trẻ
- Tuyển tập cac bài hát thiếu nhi Việt Nam – NXB Giáo dục./.  

Tác giả bài viết: BGH

Nguồn tin: PGD-ĐT

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

    Đang truy cậpĐang truy cập : 12


    Hôm nayHôm nay : 64

    Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 6663

    Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 922139

    Bản quyền: Trường THCS Thốt Nốt. Thiết kế: Tin học Vương Cường.

    Xem bản: Desktop | Mobile